Chương 2: Xác Sống Trở Về
Tôi vừa định đóng cổng thì đầu hắn bất ngờ nhô lên khỏi tường rào, nhe răng cười nham nhở. Nước từ tóc hắn nhỏ xuống, thấm ướt mặt tường dù trời khô ráo.
“Nhóc con, mày gạt tao hả? Văn Ba đang ở nhà phải không? Mở cổng!”
Tôi lùi lại, hét: “Ông ngoại cháu thật sự đi rồi!”
Hắn sốt ruột, bước ra trước cổng, mắt lườm dữ tợn. Người hắn dính đầy bùn lầy, quần rách tơi tả như vừa ngoi lên từ ruộng ngập. Hắn cười để lộ hàm răng xỉn màu: “Nhắn ông mày, không đến thì tao quay lại. Đừng trách tao không khách khí!”
Bàn tay hắn vẫy chào, móng đen kịt dính lá mục. Tôi nhớ lời ông dặn: đào giếng phải chọn đất ẩm, tay mơ đụng trúng mộ phần dễ rước họa. Người này… chắc chắn không còn sống.
Tôi hoảng hồn đóng sầm cổng, chạy vào nhà khóa chặt. Qua khe cửa, tôi nín thở nhìn mãi mới dám thở phào khi hắn biến mất. Tiếng vịt con kêu quang quác ngoài sân càng làm tôi sợ, chỉ mong ông bà mau về.
Đến khuya muộn, tiếng bước chân sột soạt ngoài ngõ. Qua cửa sổ, tôi thấy ông bà cầm bó đuốc, mặt mệt mỏi. Tôi lao ra ôm chầm: “Ông ơi…”
Ông xoa đầu tôi, giọng khàn: “Con trai phải mạnh mẽ lên.”
Bà tôi nhíu mày: “Lũ thực dân khốn kiếp, dám mò lên núi.” Rồi thở dài: “Số phận cả. May mà thoát được. Còn cô gái kia sống chết ra sao… tùy trời.”
Nghe chữ “ma quỷ”, tôi run cầm cập. Bà sờ trán tôi: “Sao thế cháu?”
Tôi khóc: “Có người lạ tìm ông!”
Ông quay phắt: “Miêu tả xem.”
“Ông béo trắng, móng tay đen, mép có nốt ruồi to.”
Ông tái mặt, nhìn bà. Bà lao ra cửa mắng vang: “Đức Tài! Đồ xui xẻo! Tự chui xuống giếng tìm chết còn đổ lỗi Văn Ba! Dám quay lại, bà đốt xác mày!”
Ông kéo bà vào, hỏi tiếp: “Hắn nói gì?”
“Đợi ông tám ngày, bảo đến làng họ Lê tìm.”
Bà lo lắng: “Thằng đó tự hại mình còn vạ lây! Cũng tại ông, năm xưa hứa giúp sao không đi?”
Ông châm hương trầm, mặt đầy nếp nhăn: “Muốn cứu làng Hạ Loan, không đi không đành lòng. Không giúp thì cả làng khát chết.”
Bà tức: “Ông tưởng mình giỏi? Giờ hắn đeo bám thì sao?”
Ông buồn: “Cũng sống đủ rồi, thời loạn lạc, chết thì…”
Bà véo ông, ông cười né. Bà nói: “Sáng mai tôi đi cùng ông đến làng họ Lê, mang giấy bạc, nến. Nếu hắn buông tha thì tốt, không thì đừng trách bà ác.”
Sáng sớm, ông bà đi từ tinh mơ. Tôi ở nhà một mình, thả đàn vịt con ra sân, dùng cành tre chọc sâu trên tường cho chúng mổ. Vịt con chen chúc kêu chíu chít, mẹ vịt lững thững quanh sân.
Tôi nhặt trứng thì nghe tiếng chuông leng keng từ xa. Ba người lạ bước tới.
Người cuối mặc áo đen kín, đầu quấn khăn dù nắng gắt, không đổ mồ hôi. Người dẫn đầu trung niên, râu ngắn, chống gậy, đeo kính râm. Giọng ông ta ngắt quãng: “Nhóc… đây… có… phải… nhà… Văn… Ba… không?”
Tôi gật: “Dạ.”
Ông ta cười méo: “Nhóc… là… cháu… ông… ấy? Tôi… tìm… nhờ… việc.”
“Ông ngoại đi vắng.”
Khóe miệng ông ta giật, lẩm bẩm “merde” vài lần. Hỏi tiếp: “Bao… giờ… về?”
Tôi bắt chước: “Cháu… không… biết…”
Ông ta lấy kẹo bọc giấy từ túi, nhét vào tay tôi: “Cho… chúng… tôi… vào… đợi…”
Chưa kịp từ chối, ông ta đã dẫn hai người vào sân, ngồi ghế tre. Mùi hôi thối nồng nặc từ họ tỏa ra, tanh hơn phân tươi.
Ông râu rút thuốc lá ngoại, đưa cho gã sau lưng. Gã có sẹo dài từ cằm lên trán, cài chuông bạc ở thắt lưng, cúi đầu nhận như được ban ơn.
Gã nói giọng lạ, nịnh: “Thuốc của ngài ngon! Tối qua đào được xác tươi… Có bùa kiềm chế, nhưng đưa về vẫn cần Văn Ba, không thì dễ sinh chuyện…”
Gã cười xu nịnh với ông râu, nhưng liếc tôi thì trợn mắt. Ông râu quát: “Quang Thắng! Đừng… dọa… trẻ… con!”
Gã sẹo gượng cười: “Nhóc thì biết gì…”
Rồi quay sang: “Mang nước với cơm ra!”
Tôi không đáp, mắt dán vào người áo đen. Hắn nặng mùi nhất. Gió thoảng, khăn trán bay lên – trên trán dán giấy bạc, khuôn mặt chính là Đức Tài đêm qua.
Bất ngờ giấy bạc rơi. Đôi mắt hắn đỏ ngầu như máu tươi.
Tôi sợ ngã, bò dậy chạy ra cổng…
Ông râu nhíu mày: “Nhóc đừng sợ. Chúng tôi… không… hại.”
Ông ta chỉnh lại khăn cho Đức Tài. Tôi lí nhí: “Các… người đợi, cháu… đi gọi ông…”
Gã sẹo sa sầm: “Mang cơm ra! Chạy gì?”
Ông râu nói một tràng tiếng Pháp với gã, giọng làu bàu. Gã “oui oui” cúi đầu. Ông râu cười với tôi: “Nhóc ngoan… đi tìm Văn Ba… Chúng tôi… đợi.”
Gã sẹo đỡ ông râu vào nhà: “Ngài vào nghỉ, để tôi nấu nướng. Nắng thế này chết được.”
Đức Tài quay đầu nhìn tôi, da đầu tôi tê rần. Tôi hét: “Đừng vào nhà!”
Nhưng họ đã khuất sau cửa. Gã sẹo vào bếp, ông râu vào gian giữa trầm trồ: “Quan Âm… magnifique…”
Tôi chạy thục mạng lên núi. Khát khô cổ, đến lưng chừng thì gặp ông bà trở về.
Ông thấy tôi: “Sao chạy lung tung?”
Tôi thở hổn hển: “Ông ơi… ba người lạ vào nhà… dẫn theo Đức Tài! Chúng… vào rồi!”
Ông tái mét: “Hỏng rồi! Xác dưới giếng bị đào lên! Sẽ có người chết!”
Bà hoảng: “Xuất hiện cương thi trong làng, ông mang tội lớn!”
Ông trấn tĩnh: “Đức Tài oán ông, hy vọng hắn còn chút tỉnh táo.”
Bà lắc đầu: “Bị nhốt giếng bảy ngày, hấp thụ âm khí… giờ chỉ biết ăn thịt người!”
Chúng tôi chạy về. Sân nhà vẫn yên, vịt con bới đất, mẹ vịt kêu quang quác. Nhưng cửa mở toang, bên trong hỗn loạn, máu loang sàn.
Cây gậy ông râu dính máu, chuông gã sẹo rách nát, cả ba mất tích. Tường phía tây thủng lỗ lớn, nhìn sang rừng trúc. Vết máu kéo dài đến đó rồi biến mất.
Ông bịt lỗ bằng gỗ, bà lau sàn nhưng mùi máu tanh vẫn nồng. Ông bà kéo tôi ra nắng, mổ gà trống, giết lợn. Bà lo: “Hay bỏ làng đi?”
Ông lắc đầu: “Bỏ đi, cả làng chết!”
Cài đặt đọc
Tùy chỉnh trải nghiệm
Bình luận
Thảo luận về truyện
Đăng nhập để tham gia bình luận
Chưa có bình luận nào!
Hãy là người đầu tiên bình luận